Sứ mệnh

Định hướng - Sứ mệnh

Sứ mệnh: Là trường có nhiệm vụ đào tạo học sinh, sinh viên trở thành giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ giáo dục ở bậc học Mầm non, phổ thông(trung học cơ sở, tiểu học) và tiến tới mở rộng quy mô đào tạo nhiều ngành nghề khác đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp...

MENU

Thành viên

Liên kết Website

 



NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Counter

Đang truy cậpĐang truy cập : 10


Hôm nayHôm nay : 639

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 54161

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 54161

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu KH & HTQT

Đánh giá đa dạng thành phần thực vật và nguyên nhân làm suy thái thảm thực vật ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang

Thứ ba - 30/05/2017 05:00
ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT
VÀ NGUYÊN NHÂN LÀM SUY THOÁI THẢM THỰC VẬT
Ở HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
 
                                                                   Tiến sĩ Đỗ Khắc Hùng - Khoa Trung học cơ sở
 
TÓM TẮT
Trong 3 kiểu thảm thực vật (thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh) đã thống kê được 557 loài thuộc 393 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch: ngành Thông đất, ngành Cỏ tháp bút, ngành Dương xỉ, ngành Thông và ngành Ngọc lan. Trong đó 15 họ có từ 10 loài trở lên (chiếm 42,01% tổng số loài), 13 chi có từ 4 loài trở lên (chiếm 12,39% tổng số loài), 33 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 7 loài được ghi nhận trong Nghị định 32 của Chính phủ. Phần lớn các loài cây thống kê được đều là các loài tiên phong ưa sáng vì có thể bắt gặp chúng mọc trên đất sau khai thác kiệt, trên các chỗ trống của rừng sau khi những cây gỗ lớn bị chặt hạ. Tuy có thành phần thực vật phong phú và đa dạng nhưng thảm thực vật ở huyện Vị Xuyên lại đang bị suy giảm đáng kể cả về diện tích và chất lượng mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động khai thác gỗ, thai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ khác và cháy rừng...
 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Huyện Vị Xuyên nằm trong vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang với đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng đa dạng, diện tích rừng tương đối lớn (tổng diện tích rừng là 102.072,06ha và độ che phủ là 68%). Trong đó có một phần diện tích rừng nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và các Khu Bảo tồn rừng đặc rụng Phong Quang, Du Già, Khau Ca nên thành phần thực vật khá phong phú và đa dạng với nhiều loài cây gỗ quý như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Pơ mu (Fokiennia hodginsii), Đinh (Markhamia stipulata)Tuy nhiên, trong những năm qua mặc dù đã có chính sách giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình của Chính phủ, nhưng do dân số tăng nhanh, do nhu cầu cuộc sống hàng ngày... nên nhiều diện tích rừng bị khai thác cạn kiệt làm cho rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Các kiểu thảm thực vật ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang gồm: thảm cỏ, thảm cây bụi  và rừng thứ sinh.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu trực tiếp ngoài thực địa trên các tuyến điều tra (TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC). Trong mỗi kiểu thảm bố trí tuyến điều tra thứ nhất có hướng vuông góc với đường đồng mức cơ bản, các tuyến sau song song với tuyến điều tra thứ nhất. Khoảng cách giữa hai tuyến tùy theo từng kiểu thảm và địa hình cụ thể, dao động từ 50-100m, chiều rộng tuyến điều tra là 2m về mỗi phía đối với rừng thứ sinh, thảm cây bụi và 1m về mỗi phía đối với thảm cỏ. Trên mỗi TĐT tiến hành lập các ô tiêu chuẩn và được phân bố đồng đều ở trong từng kiểu thảm thực vật. Diện tích OTC đối với rừng thứ sinh là 400m2 (20m x 20m), đối với thảm cây bụi là 16m­­­­­­2 (4m x 4m), còn đối với thảm cỏ là 1m­­­­­2 (1m x 1m). Trên TĐT và OTC quan sát và ghi chép tất cả các số liệu về thành phần loài (tên Latin hoặc tên địa phương) và dạng sống của các loài thực vật. Những loài chưa biết tên lấy mẫu về định loại.
Xác định tên khoa học, tên địa phương các loài cây theo tài liệu “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) [5], theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cộng sự (2003, 2005) [1] và theo cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2000) [3]. Xác định những loài thực vật quý hiếm dựa vào Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (Phần thực vật) [2] và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, 2006 [4].
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đa dạng thành phần thực vật trong một số kiểu thảm ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
1.1. Đa dạng ở mức độ ngành
            Tại 3 kiểu thảm thực vật, chúng tôi đã thống kê được 557 loài thuộc 393 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Kết quả được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1: Sự phân bố của các taxon thực vật ở KVNC
STT NGÀNH Họ Chi Loài
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
1 Thông đất
(Lycopodiophyta)
2 1,75 3 0,76 5 0,90
2 Cỏ tháp bút
(Equisetophyta)
1 0,88 1 0,25 2 0,36
3 Dương xỉ
(Polypodiophyta)
6 5,26 9 2,29 12 2,15
4 Thông
(Pinophyta)
3 2,63 4 1,02 6 1,08
5 Mộc lan
(Magnoliophyta)
102 89,48 376 95,66 532 95,51
Cộng 114 100,00 393 100,00 557 100,00
 
 
Theo số liệu ở bảng 1, bước đầu đã ghi nhận 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, nhưng thành phần thực vật trong các bậc xaton là không đồng đều. Trong 5 ngành thực vật, thì ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có số họ, số chi và số loài phong phú nhất: 102 họ (89,48%), 376 chi (95,66%), 532 loài (95,51%). Tiếp đến là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 6 họ (5,26%), 9 chi (2,29%) và 12 loài (2,15%), ngành Thông (Pinophyta) có 3 họ (2,63%), 4 chi (1,02%) và 6 loài (1,08%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 2 họ (1,75%), 3 chi (0,76%), 5 loài (0,90%). Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có số họ, số chi và số loài thấp nhất: 1 họ (0,88%), 1 chi (0,25%), 2 loài (0,36%).
Trong ngành Mộc lan (Magnoliophyta), lớp Mộc lan (Magnoliopsida) có 88 họ (86,27%), 330 chi (87,77%) và 477 loài (89,66%). Số lượng của các họ, chi và loài trong lớp này lớn hơn rất nhiều so với lớp Hành (Liliopsida) có 14 họ, 46 chi và 55 loài. Kết quả được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2: Số lượng họ, chi và loài trong ngành Mộc lan ở KVNC
Ngành Mộc lan
(Magnoliophyta)
Họ Chi Loài
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Lớp Mộc lan
(Magnoliopsida)
88 86,27 330 87,77 477 89,66
Lớp Hành
(Liliopsida)
14 13,73 46 12,23 55 9,34
Tổng 102 100,00 376 100,00 532 100,00
 
 
1.2. Đa dạng ở mức độ họ
Ở các kiểu thảm thực vật, chúng tôi đã thống kê được 114 họ. Trong đó họ có số loài nhiều nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 40 loài (chiếm 7,18% tổng số loài), sau đó đến họ Đậu (Fabaceae) có 23 loài,  họ Dâu tằm (Moraceae) có 19 loài, họ Hoà thảo (Poaceae) có 17 loài,  họ Long não (Lauraceae), họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Cúc (Asteraceae) đều có 15 loài, các họ Na (Annonaceae), Trúc đào (Apocynaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae) và họ Vang (Caesalpiniaceae) có 12 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có 11 loài, họ Xoan (Meliaceae) và họ Đơn nem (Myrsinaceae) có 10 loài, họ Dẻ (Fagaceae) và họ Cam (Rutaceae) có 9 loài. Ngoài ra, 5 họ có 8 loài là họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae) và họ Lan (Orchidaceae); 3 họ có 7 loài là: họ Ô rô (Acanthaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae) và họ Nho (Vitaceae); 6 họ có 6 loài, 9 họ có 5 loài; 11 họ có 4 loài; 16 họ có 3 loài; 22 họ có 2 loài. Có 24 họ chỉ có duy nhất một loài như: họ Ráng mạc điệp (Hymenophyllaceae), họ Sau sau (Altingiaceae), họ Vòi voi (Boraginaceae), họ Kẹn (Hippocastanaceae)... Trong 114 họ đã gặp ở KVNC, thì có 15 họ có từ 10 loài trở lên (chiếm 42,01% tổng số loài). Số lượng họ có từ 10 loài trở lên được thống kê ở bảng 3.
Bảng 3: Các họ thực vật có từ 10 loài trở lên ở KVNC
STT Tên họ Số loài Tỷ lệ (%)
Tên khoa học Tên Việt Nam
1 Euphorbiaceae Họ Thầu dầu 40 7,18
2 Fabaceae Họ Đậu 23 4,13
3 Moraceae Họ Dâu tằm 19 3,41
4 Poaceae Họ Hoà thảo 17 3,05
5 Lauraceae Họ Long não 15 2,69
6 Rubiaceae Họ Cà phê 15 2,69
7 Asteraceae Họ Cúc  15 2,69
8 Annonaceae Họ Na 12 2,15
9 Apocynaceae Họ Trúc đào 12 2,15
10 Araliaceae Họ Ngũ gia bì 12 2,15
11 Caesalpiniaceae Họ Vang 12 2,15
12 Mimosaceae Họ Trinh nữ 11 1,97
13 Verbenaceae Họ Cỏ roi ngựa 11 1,97
14 Meliaceae Họ Xoan 10 1,80
15 Myrsinaceae Họ Đơn nem 10 1,80
Tổng 234 42,01
 
Phần lớn các loài cây thống kê được đều là các loài tiên phong ưa sáng vì có thể bắt gặp chúng mọc trên đất sau khai thác kiệt, trên các chỗ trống của rừng sau khi những cây gỗ lớn bị chặt hạ.
Các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế hoặc giá trị sử dụng cao như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Nghiến (Parapentace tonkinense), Re hương (Cinnamomun parthenoxylon), Giổi xanh (Michelia mediocris)… còn lại rất ít. Nguyên nhân của tình trạng này là do rừng tự nhiên bị tàn phá nặng nề, nguồn giống bị thiếu hụt làm giảm khả năng tái sinh của cây con. Do vậy, trong quá trình phục hồi cần có những biện pháp bảo vệ, gây trồng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên để bảo tồn nguồn gen.
1.3. Đa dạng ở mức độ chi
Tại KVNC đã thống kê được 393 chi thực vật. Chi có nhiều loài nhất là Ficus với 12 loài chiếm 2,15% tổng số loài. Tiếp theo là chi Fissistigma có 6 loài (1,08% tổng số loài). 3 chi có 5 loài là Mallotus, Lithocarpus, Clerodendrum. 9 chi có 4 loài là Schefflera, Garcinia, Dillenia, Elaeocarpus, Phyllanthus, Castanopsis, Acacia, Maesa, Rubus. Có 13 chi có từ 4 loài trở lên, các chi này có 69 loài (12,39% tổng số loài). Ngoài ra, có 21 chi có 3 loài, 58 chi có 2 loài và 233 chi chỉ có một loài. Số lượng chi có từ 10 loài trở lên được thống kê ở bảng 4.
Bảng 4: Các chi thực vật có từ 4 loài trở lên ở KVNC
STT Tên chi Họ Số loài Tỷ lệ (%)
Tên khoa học Tên Việt Nam
1 Ficus Moraceae Họ Dâu tằm 12 2,15
2 Fissistigma Annonaceae Họ Na 6 1,08
3 Mallotus Euphorbiaceae Họ Thầu dầu 5 0,90
4 Lithocarpus Fagaceae Họ Dẻ 5 0,90
5 Clerodendrum Verbenaceae Họ Cỏ roi ngựa 5 0,90
6 Schefflera Araliaceae Họ Ngũ gia bì 4 0,72
6 Garcinia Clusiaceae Họ Bứa 4 0,72
7 Dillenia Dilleniaceae Họ Sổ 4 0,72
8 Elaeocarpus Elaeocarpaceae Họ Côm 4 0,72
9 Phyllanthus Euphorbiaceae Họ Thầu dầu 4 0,72
10 Castanopsis Fagaceae Họ Dẻ 4 0,72
11 Acacia Mimosaceae Họ Trinh nữ 4 0,72
12 Maesa Myrsinaceae Họ Đơn nem 4 0,72
13 Rubus Rosaceae Họ Hoa hồng 4 0,72
Tổng 69 12,39
 
1.4. Các loài thực vật quý hiếm
            Trong tổng số 557 loài tại KVNC, chúng tôi đã thống kê được 33 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam, chiếm 7,12% số loài có trong Sách đỏ Việt Nam (2007) [2], trong đó có 1 loài thuộc nhóm rất nguy cấp (CR); 12 loài thuộc nhóm nguy cấp (EN); 20 loài thuộc nhóm sẽ nguy cấp (VU). 7 loài trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [4] chiếm 1,26% tổng số loài đã biết tại khu vực nghiên cứu và chiếm 13,46% tổng số loài có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, trong đó 2 loài nằm trong nhóm I.A và 5 loài nằm ở nhóm II.A. Các loài thực vật quý hiếm được thống kê ở bảng 5.

Bảng 5: Danh lục các loài thực vật quý hiếm ở KVNC
STT Tên khoa học Tên Việt Nam SĐVN
2007
NĐ 32
2006
1 Annamocarya sinensis (Dode) J. Leroy Chò đãi EN  
2 Anoectochilus calcareus Aver. Kim tuyến đá vôi EN I.A
3 Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte Trầm hương EN  
4 Ardisia silvestris Pitard Lá khôi VU  
5 Canarium tramdenum Dai & Yakov. Trám đen VU  
6 Castanopsis hystrix A. DC. Dẻ gai đỏ VU  
7 Castanopsis lecomtei Hickel & A. Camus Cà ổi Sa pa VU  
8 Cinnadenia paniculata (Hook. f.) Koesterm Kháo xanh VU  
9 Cinnamomum balansae Lecomte Gù hương VU II.A
10 Cinnamomum parthenoxylon (Jack.) Meisn. Re hương CR II.A
11 Chukrasia tabularis A. Juss. Lát hoa VU  
12 Dalbergia tonkinensis Prain Sưa VU I.A
13 Drynaria fortunei (Kuntze.) J. Smith Cốt toái bổ EN  
14 Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau Nghiến   EN II.A
15 Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson Hà thủ ô đỏ VU  
16 Garcinia  fagraeoides A. Chev. Trai lý EN II.A
17 Goniothalamus vietnamensis L. Béo đen VU  
18 Gymnostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino Dần toòng EN  
19 Leucosceptrum canum Smith Hoa bông EN  
20 Madhuca pasquieri  (Dubard) H. J. Lam Sến mật EN  
21 Manglietia fordiana Oliv Vàng tâm VU  
22 Markhamia stipulata (Wall.) Seem. ex Schum. Đinh VU II.A
23 Melientha suavis Pierre Rau sắng VU  
24 Michelia balansae Dandy Giổi lông VU  
25 Morinda officinalis How Ba kích EN  
26 Rauvolfia latifrons Tsiang Ba gạc lá to VU  
27 Strophanthus wallichii A. DC. Sừng trâu EN  
28 Tetrapanax papyriferus (Hook.) C. Koch. Thông thảo EN  
29 Paramichelia baillonii (Pierre.) S. Y. Hu Giổi găng VU  
30 Parashorea chinensis H. Wang Chò chỉ     VU  
31 Taxillus gracilifolius (Schult. f.) Ban Mộc vệ rủ VU  
32 Tinospora sagittata (Oliv.) Gagnep Củ gió VU  
33 Valeriana execta Merr. Nữ lang VU  
Ghi chú: - SĐVN 2007: Sách đỏ Việt Nam, 2007. Trong đó: CR là rất nguy cấp; EN là nguy cấp; VU là sẽ nguy cấp.
            - Nghị định số 32/2006/NĐ-CP: Nghị định của Chính phủ ban hành ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lí thực vật rừng, động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trong đó: Nhóm I.A cần nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; Nhóm II.A cần hạn chế khai thác,sử dụng vì mục đích thương mại.
2. Các nguyên nhân làm suy thoái rừng ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang
2.1. Hoạt động khai thác gỗ
Hoạt động khai thác gỗ trong vùng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn ở Hà Giang diễn ra gay gắt trong vòng 4 - 5 năm trở lại đây. Do lợi nhuận từ khai thác gỗ Nghiến, Đinh lên tới vài triệu đồng/người/ngày nên các đối tượng lâm tặc bất chấp thủ đoạn để tàn phá rừng. Hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cây gỗ Nghiến, Trai (nhóm IIA) cổ thụ có đường kính từ 0,8 - 1,5m đã bị đốn hạ, cắt thớt trong sự bất lực của các cơ quan chức năng. Hàng năm, lượng gỗ tịch thu được chỉ là một phần rất nhỏ so với lượng gỗ đã khai thác. Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho chất lượng của rừng bị suy thoái.
2.2. Khai thác lâm sản khác ngoài gỗ
- Khai thác củi: Do thu nhập của đa số các hộ dân trong huyện còn thấp và theo thói quen sinh hoạt nên củi được sử dụng làm chất đốt là chủ yếu. Ngoài ra, những hộ gia đình nghèo không có đất sản xuất, không có vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi để bán nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình. Lượng củi khai thác giai đoạn 2010 - 2013 ở huyện Vị Xuyên dao động 136.820 - 227.780ste/năm.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ khác: Số liệu ở bảng 4.8 cho thấy, có nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã bị khai thác ở huyện Vị Xuyên (14 loại); trong đó khai thác tre, nứa, luồng 238.000 - 339.300 cây/năm; khai thác nứa, trúc, giang 143.000 - 316.680 cây/năm;  bông chít 56 - 65 tấn/năm; thảo quả 636 - 830 tấn/năm; măng tươi 38 - 113 tấn/năm... Tất cả các loài trên đều được sử dụng trong hộ gia đình, bán và xuất khẩu qua biên giới với lợi nhuận cao nên tình trạng khai thác diễn ra khá phổ biến. Ngoài ra, thú rừng cũng bị săn bắt để làm thực phẩm, dược phẩm cũng diễn ra khá phổ biến.
Do vậy, khai thác lâm sản ngoài gỗ cũng là một trong các nguyên nhân làm suy kiệt tài nguyên đa dạng sinh học của rừng.
2.3. Cháy rừng
Đây là nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh chóng nhất, gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra các hậu quả xấu (xói mòn, lũ lụt, hạn hán…) đến đời sống con người. Nguyên nhân chủ yếu của cháy rừng là do hoạt động khai thác của con người như: đốt nương làm rãy, đốt các gốc cây to để khai thác than gỗ, đốt lửa lấy mật ong… Ngoài ra, cháy rừng còn do nguyên nhân thời tiết nắng nóng kéo dài (tháng 6, 7, 8, 9) với nhiệt độ trung bình trên 28oC và số giờ nắng trung bình 155,26 giờ.
            Theo kết quả thống kê của hạt kiểm lâm huyện Vị Xuyên giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2012, toàn huyên có 28 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 750,2ha.
2.4. Các nguyên nhân khác
            Lực lượng kiểm lâm tỉnh Hà Giang nói chung và huyện Vị Xuyên nói riêng còn quá mỏng so với quy định, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho quản lí bảo vệ rừng còn thiếu thốn.
Tỉ lệ tăng dân số của huyện còn khá cao (1,2%), đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn (tỉ lệ hộ nghèo năm 2013 là 21,77%). Vì vậy, đời sống kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên rừng.
Trình độ dân trí thấp nên khó tiếp cận với các chương trình dự án về rừng, nhận thức của người dân về tác hại của việc khai thác quá mức tài nguyên rừng còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật cho nhân dân tuy đã được triển khai nhưng chưa thường xuyên, kịp thời.
Do phong tục, tập quán đã có từ lâu đời như du canh du cư, phải sinh con trai hay chăn thả gia súc vào rừng... nên đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm.
Chưa có chính sách thưởng, phạt rõ ràng nên chưa có tác dụng động viên người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng.
IV. KẾT LUẬN
Hệ thực vật huyện Vị Xuyên có thành phần thực vật phong phú và đa dạng gồm 557 loài thuộc 393 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch: Ngành Thông đất, ngành Cỏ tháp bút, ngành Dương xỉ, ngành Thông và ngành Ngọc lan. Trong đó có 33 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và 7 loài được ghi nhận trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Các hoạt động khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ và cháy rừng là những nguyên nhân chính làm suy giảm diện tích và chất lượng thảm thực vật rừng ở huyện Vị Xuyên.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
        1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cộng sự (2003, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
        2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam (phần Thực vật), Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
        3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
        4. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Hà Nội.
        5. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, tập I - III, Nxb Motreal, Canada.
 
                                                                                   
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ từ xa

  • CDSP HA GIANG - (0219) 3 868 057


© Copyright cdspHaGiang. All right reserved

Đ/c: Tổ 16 - P. Nguyễn Trãi - Tp. Hà Giang