Sứ mệnh

Định hướng - Sứ mệnh

Sứ mệnh: Là trường có nhiệm vụ đào tạo học sinh, sinh viên trở thành giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ giáo dục ở bậc học Mầm non, phổ thông(trung học cơ sở, tiểu học) và tiến tới mở rộng quy mô đào tạo nhiều ngành nghề khác đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp...

MENU

Thành viên

Liên kết Website

 



NHẬP EMAIL ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG BÁO MỚI NHẤT TỪ CỔNG THÔNG TIN ĐÀO TẠO

Counter

Đang truy cậpĐang truy cập : 22

Máy chủ tìm kiếm : 11

Khách viếng thăm : 11


Hôm nayHôm nay : 1394

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 28199

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 292879

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu KH & HTQT » Nghiên cứu khoa học

Đặc điểm kết cấu nghệ thuật thơ ca dân gian Mông

Thứ ba - 01/05/2018 21:41
                                                          Tiến sĩ Hùng Thị Hà – Phó Hiệu trưởng

   Nghiên cứu thơ ca dân gian Mông đặt trong mối quan hệ với môi trường văn hóa và chịu sự chi phối chặt chẽ của nghệ thuật dân gian Mông, ta thấy rằng: Tồn tại trong cuộc sống dưới hình thức sinh hoạt diễn xướng, thơ ca dân gian Mông mang đậm lối đối đáp, dù bài thơ còn giữ nguyên kết cấu hai vế hay chỉ còn lưu lại hình thức một vế thì dấu ấn của lối đối đáp vẫn in khá rõ trong cách thể hiện. Kết quả khảo sát văn bản cho thấy hình thức đối đáp là đặc trưng cơ bản, chiếm số lượng lớn trong thơ ca dân gian Mông: tỷ lệ 235/272 bài. Các bài ca tồn tại trong hai hình thức: độc thoại và đối thoại.
   Trai gái Mông gặp gỡ, tìm hiểu nhau trong lao động, vì thế nương rẫy, lễ hội, chợ phiên là không gian khơi nguồn cảm hứng hát đối đáp. Kết cấu đối đáp hai vế là hình thức đối thoại giữa hai nhân vật trữ tình tiêu biểu trong diễn xướng dân ca. Họ hát với nhau để giãi bày tâm tư tình cảm của mình. Vì thế, những bài ca tồn tại hai vế là lời tâm sự, là nỗi lòng của hai người:
   - “Anh rằng: Em ơi!/ Tình yêu đôi ta đẹp ngần này/ Đã nói nhiều nhưng ta chưa nói hết/ Vẫn còn một điều ngây ngất ở trong anh./ Em rằng: Anh ơi!/ Chúng mình tâm sự dù hay đến mấy/ Nhưng mới lần đầu gặp gỡ/ Muốn nói với anh bằng điều khác/ Nhưng vì chưa hiểu nổi trái tim anh”[3;115].
Hình thức hát giao duyên chủ yếu sử dụng phép đối ý, đối lời tạo nên sự cân đối giữa câu thơ, đoạn thơ khiến cho nội dung được nổi bật lên:
   - “Gầu Mông rằng đrâu Mông:/ Giá hai đứa lấy được nhau/ Sẽ ăn uống cùng mâm/ Anh chết, em chết cùng hòm,/ Sẽ ăn uống cùng muôi/ Anh chết em chết cùng hơi./ Đrâu Mông rằng gầu Mông:/ Giờ đây yêu nhau không lấy được/ Hai đứa ăn uống không cùng bát/ Em chết, anh chết chia lìa khác,/ Hai đứa ăn uống không cùng thìa/ Anh chết, em chết sẽ chia lìa”[1; 167].
   Với kiểu kết cấu này, hình ảnh đrâu Mông – gầu Mông (anh - em) luôn xuất hiện. Khi diễn xướng, đối phương phải bám theo chủ đề người hát trước (từ những mẫu gốc có sẵn có thể được thay đổi ít nhiều sao cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể) từ đó mà tạo ra sự cân đối giữa lời xướng và lời đáp, đảm bảo mạch tâm tình đang tiếp nối, tạo nên sự giao hòa cảm xúc lứa đôi. Tuy nhiên, cũng có những câu hát, khúc hát được sáng tác nhất thời khi cần ứng đối nhanh, nên khi hát mỗi bên buộc phải nghĩ ra lời mới để đối đáp. Sự phối hợp các khổ thơ có vai trò đặc biệt trong  diễn xướng, thể hiện lối đối đáp giữa lời chàng trai và lời cô gái.
   Hình thức độc thoại dân ca Mông chiếm số lượng lớn. Lối đối đáp một vế này là sự bộc bạch trực tiếp tư tưởng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Nở hoa thành hoa vàng/ Kết trái thành trái chua/ Chàng với mình yêu nhau đến cuồng say/ Năm nay chàng đi lấy vợ/ Để lại một mình gầu Mông mất hết sức làm/ Gầu Mông để nương lúa non mơn mởn cho bò ăn”[2]. Đây thường là những khúc hát tự bộc lộ nỗi lòng mình mượn cảnh tả tình, tưởng như nói với người yêu mà không có lời đáp. Có khi là một khúc hát bâng quơ nhưng đầy ngụ ý: Em hỡi!/ Cây màng đổ chạm vào cây thông/ Cây thông đổ trên mặt đất/ Đôi ta kết bạn gái trai tốt đẹp đến dường này/ ta chỉ có đường vui mà không có đường bỏ”; “Em hỡi! Hãy tiễn anh đi quãng nữa/ Đến bờ khe nước chảy êm đềm/ Có cả con mương đầy ắp nước/ Anh sẽ để gia tài ruộng nương của mẹ cha anh cho mình em coi giữ”[3; 55].
   Tuy hình thức là bài ca độc thoại nhưng dấu ấn đối đáp vẫn đậm nét qua lời nhắn nhủ mở đầu các bài ca: đrâu Mông (anh) - gầu Mông (em); mê nxeil gâux Hmôngz (em gái Mông ) - mê txir lênhx tuz (chàng trai trẻ) mê luôl tuz (chàng trai trẻ) – mê luôl nxei (cô gái trẻ)... với những cách sử dụng các cặp đại từ nhân xưng như: cur (tôi, anh, em...), caox (anh, em...), ưz aoz lênhz (chúng mình, chúng ta, hai ta, đôi ta...)...
   Như vậy, “tuy hình thức là độc thoại, nhưng người ta vẫn đoán là những phiến đoạn, là một vế của tầng tầng lớp lớp những đối ca nam nữ trong các cuộc hát mùa xuân, hay trong những đêm hát bên bếp lửa” [6/ 46].
   Đối đáp được coi là hình thức kết cấu đặc trưng của thơ ca dân gian trữ tình nhưng nó cũng không thể thích ứng với mọi lối hát, điệu hát và cũng không biểu đạt hết những cảm hứng trữ tình phong phú, đa dạng của tất cả các kiểu nhân vật trữ tình trong ca dao dân ca. Bởi thế, lối kể chuyện là sự đáp ứng cần thiết của thơ ca dân gian trước yêu cầu của con người và cuộc sống. Trong kiểu kết cấu này, ta thấy bóng dáng hai nhân vật đang trò chuyện, đó là trò chuyện trong tâm tưởng. Hình thức trần thuật chỉ là cái cớ để giãi bày tâm trạng.
   Ở những bài thơ theo lối kể chuyện tâm tình, đôi khi cảm nhận người kể dường như đứng ngoài cuộc và đôi chỗ còn có lời trần thuật tạo thành một câu chuyện: có nhân vật, có diễn biến, có yếu tố của cốt truyện, ví dụ như trong bài Nhịn đói
Đầu tiên đó là lời dẫn chuyện: “Gà buồn gà dựng lông/ Gái buồn gái địu thùng/ Đi địu nước suối rêu/ Gặp đôi rồng thân bằng vành xa”[2;121]; rồi đến lời thoại của nhân vật: “Bố mẹ chồng nàng rằng/ Gặp đôi rồng mình bằng thân cột/ Cớ sao rồng không hộ nuốt”[2;121].
   Tính chất tự sự tạo cho cái nền cảm hứng trữ tình của ca dao những yếu tố mới lạ, hấp dẫn. Sự kết hợp hài hòa giữa tính chất trữ tình dàn trải với tính chất sự kiện rất phù hợp với việc giải bày tình cảm của nhân vật trữ tình, khiến cho nhiều bài ca dân gian Mông đậm đà yêu thương, hồn nhiên, bình dị  và không kém phần tinh tế.
   Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình thể hiện rõ qua các bài ca nghi lễ cúng ma của người Mông. Thơ ca nghi lễ có nhiều bài nổi rõ yếu tố cốt truyện kèm theo lời trần thuật của người dẫn chuyện. Bài ca Chỉ đường (Kruôz kê) là một câu chuyện thần thoại sống động, ghi nhận lịch sử thế giới quan, nhân sinh quan của người Mông. Với lời ca chan chứa tình yêu thương “Khúa kê” còn là một lễ thức quan trọng dẫn dắt linh hồn người chết về được với tổ tiên. Với “mô hình cấu trúc vòng tròn khép kín, bắt đầu là cái chết, sự hủy diệt và kết thúc là sự sống”[4], tính chất tự sự đậm đà, lời kể tuy dàn trải, có sức lôi cuốn riêng, người đọc bài ca này trong đám tang đã hóa thân thành người dẫn đường đầy linh thiêng như đưa người nghe (cả người sống và người chết) thâm nhập vào cõi ấy. Từ cội nguồn vũ trũ, con người, công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, tấm lòng và nỗi nhớ thương… tất cả đều hội tụ trong áng dân ca giàu giá trị nhân văn này. Qua lời kể của thầy chỉ đường, “chí xáy” và lời tâm sự dặn dò của người ra đi và người ở lại, ta thấy rất rõ tính chất tự sự hòa kết với chất trữ tình dàn trải suốt bài ca. Bài ca chỉ dùng trong đám tang nhưng không ảm đạm, u buồn mà trái lại luôn thể hiện niềm lạc quan tin tưởng về cuộc sống.
   Chính yếu tố cốt truyện làm cho những câu thơ, khúc hát trong bài liên kết chặt chẽ hơn, tình tiết truyện theo những khúc hát cứ liên tiếp nhau, khiến cho người nghe có cảm giác như nghe một câu chuyện trong đời.
   Như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Cái hay của tâm hồn Hmông không phải chỉ ở chỗ tâm hồn ấy có tiếng hát, say mê, quý trọng tiếng hát của mình… mà cái đẹp còn ở chỗ người Hmông có một quan niệm, chủ trương rất rõ về tiếng hát. Người Hmông có cả một luật lệ, một nghi lễ về tiếng hát”[5;88]. Vì thế, dân ca Mông không phải là những bài hát đơn lẻ mà tồn tại theo từng nhóm chủ đề: Tiếng hát tình yêu, Tiếng hát cưới xin, Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát mồ côi, Tiếng hát trong lễ cúng ma… Xuất phát từ sự gần gũi giao hòa giữa các hiện tượng tự nhiên và đời sống con người các bài dân ca Mông đều tuân theo một mô hình cấu trúc chung: ban đầu là bức tranh thiên nhiên, sinh hoạt ở phần trước bài ca làm duyên cớ dẫn dắt cảm xúc:“Núi cao có mặt trời sáng                                    
 rực/ Đồng bằng sinh lùm cây rậm rì/ Rậm rì như mớ chỉ rối tung”[3;66] sau đó mới là bức tranh tâm hồn của con người “Anh yêu em, tình không phai không nhạt”… Theo nhà Foklore học nổi tiếng người Nga A.N Vexlôpxki cho rằng: đó là cấu trúc theo nguyên tắc song hành tâm lý, một trong các mô hình cấu trúc của bài dân ca trữ tình. Với kiểu cấu trúc này, giữa hai bức tranh có sự giao nhau, cái này làm sáng tỏ cái kia, bức tranh tâm cảnh của con người.
   Đối chiếu sự vật hiện tượng của thiên nhiên với những trạng thái tình cảm của con người là biện pháp kết cấu được người Mông ưa sử dụng. Tình yêu có bao nhiêu cung bậc thì dường như thiên nhiên, cảnh vật cũng hàm chứa bấy nhiêu tình ý để con người thổ lộ tâm tình. Việc liên kết nội dung các đoạn thơ, cách diễn đạt này phản ánh sự giao hòa giữa thiên nhiên với tâm hồn con người trong đời sống của người Mông. Có thể nói, sức sống mãnh liệt của thơ ca dân gian Mông trong đời sống thường nhật không chỉ bởi nội dung phong phú, mà còn bởi nghệ thuật liên kết các hình tượng trong một bài thơ; bao nhiêu lời ca bấy nhiêu tâm trạng, bấy nhiêu cuộc đời. Sự hài hòa giữa tự sự với trữ tình tạo nên vẻ đẹp hồn nhiên chân thành và sự đồng cảm với người đọc.
Chất trí tuệ nằm trong cách thức tổ chức văn bản nghệ thuật qua lời thơ, trở thành phẩm chất văn hóa của thơ ca dân gian Mông. Điều đó gợi lên trí tuệ, tâm hồn tính cách con người vùng cao: cần cù, trung thực, giàu tình cảm mạnh mẽ và kiên quyết. Những tính cách ấy thống nhất chặt chẽ cùng nhau và phần nào biểu hiện qua kết cấu của thơ dân gian, bởi “người Hmông là người rất muốn biết rõ lý lẽ phải trái, nguyên nhân vì đâu”[3;22]. Và cùng bởi thế nên với người Mông không hát thì thôi, đã hát thì giãi bày cho hết nỗi lòng: “Chuyện là chuyện cho đủ, nói là nói cho hết/ Để ta khỏi rầu lòng những lúc xa nhau”[3; 69].
*********************
Tài Liệu tham khảo
1. Hùng Đình Quý (2000), Dân ca Mông Hà Giang (tập 1), Sở VHTT Hà Giang.
2. Hùng Đình Quý (2002), Dân ca Mông Hà Giang (tập 3), Sở VHTT Hà Giang.
3. Doãn Thanh  sưu tầm, dịch ((1984), Dân ca Hmông, Nxb. Văn học, H.
4. Bùi Xuân Tiệp (2012), Khúa kê của dân tộc Hmông là tác phẩm văn học dân gian mang đậm chất thần thoại, Tạp chí nguồn sáng dân gian số 3.
5. Chế Lan Viên (1979), “Tâm hồn và tiếng hát Mèo (trong xã hội cũ)”, Tạp chí Văn học, (số 6), H.
6. Phạm Thu Yến (1995), “Đặc điểm kết cấu dân ca Hmông”, Tạp chí Văn hoá dân tộc, (số 12), H

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ từ xa

  • CDSP HA GIANG - (0219) 3 868 057


© Copyright cdspHaGiang. All right reserved

Đ/c: Tổ 16 - P. Nguyễn Trãi - Tp. Hà Giang